Chào mừng quý vị đến với Website Huyện Đoàn Phú Lương.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Đạo đức 5.BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN VÀ GIÁO DỤC HỌC SINH GẶP KHÓ KHĂN TRONG HỌC TẬP VÀ CÁ BIỆT VỀ ĐẠO ĐỨC

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Thảo
Ngày gửi: 20h:38' 15-04-2024
Dung lượng: 162.0 KB
Số lượt tải: 100
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Thảo
Ngày gửi: 20h:38' 15-04-2024
Dung lượng: 162.0 KB
Số lượt tải: 100
Số lượt thích:
0 người
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CƯ KUIN
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN VÀ GIÁO DỤC
HỌC SINH GẶP KHÓ KHĂN TRONG HỌC TẬP
VÀ CÁ BIỆT VỀ ĐẠO ĐỨC
Người thực hiện: Lê Đình Tuấn
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Ea Hu, tháng 04 năm 2024
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CƯ KUIN
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN VÀ GIÁO DỤC
HỌC SINH GẶP KHÓ KHĂN TRONG HỌC TẬP
VÀ CÁ BIỆT VỀ ĐẠO ĐỨC
Người thực hiện: Lê Đình Tuấn
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Ea Hu, tháng 04 năm 2024
Mục lục:
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài …………………………………………….. .Trang 4
2. Mục đích nghiên cứu …………………………………………. Trang 4
3. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………. Trang 4
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ……………………………… .. Trang 4
5. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………. Trang 4
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận của vấn đề ……………………..……………….. Trang 5
2. Cơ sở thực tiễn ………………………………………………… Trang 6
2.1 Thuận lợi ………………………………………………………Trang 6
2.2 Khó khăn ……………………………………………………….Trang 7
2.3 Khảo sát thực tiễn ……………………………………………....Trang 7
3. Các biện pháp nghiên cứu ……………………………………….Trang 7
3.1 Diện học sinh gặp khó khăn trong học tập ……………………..Trang 7
3.2 Diện học sinh cá biệt về đạo đức ……………………………….Trang 8
3.3 Nguyên nhân của thực trạng …………………………………...Trang 8
3.4 Các biện pháp tiến hành giả quyết …………………………..…Trang 9
3.5 Các giải pháp chủ yếu ………………………………………….Trang 10
3.6 Tổ chức triển khai thực hiện ……………………………………Trang 12
4. Kết quả ứng dụng…………………………………………..…….Trang 13
4.1 Nhóm học sinh gặp khó khăn về học tập ………………………Trang 13
4.2 Nhóm học sinh cá biệt về đạo đức ……………………………..Trang 13
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN GHỊ
1. Kết luận …………………………………………………. ……..Trang 13
2. Kiến nghị ………………………………………………………. Trang 14
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong bất kì giai đoạn nào, xã hội nào, nghề giáo viên cũng luôn được đề
cao và quý trọng. Đặc biệt là trong chế độ xã hộ chủ nghĩa, nghề giáo lại càng
được tôn vinh và được xem là một nghề “cao quý nhất trong các nghề cao quý” .
Cái nghề “truyền chữ”, “trồng người” này lại không đơn giản, nhất là ở lứa tuổi
của các em học sinh bậc tiểu học mới chập chững làm quen với mái trường, thầy
cô, bạn bè... Đây là lứa tuổi rất nhạy cảm và rất dễ bắt trước với những cái tiêu
cực, cái thiếu chuẩn mực của xã hội. Vì vậy nếu không giáo dục, không uốn nắn
các em ngay từ đầu thì rất dễ để cho các em phạm phải những sai lầm đáng tiếc
khi mà các em chưa làm chủ được bản thân.
2. Mục đích nghiên cứu
Giúp cho các em học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản ở bậc tiểu học
nói chung và kiến thức ở từng khối lớp nói riêng. Đồng thời qua đó giáo dục,
uốn nắn, bồi dưỡng, giáo dục các em từ những học sinh cá biệt, quậy phá, lười
học… trở thành người có ích cho xã hội sau này.
Chia sẻ, giúp đỡ đồng nghiệp có thêm kinh nghiệm trong cách giáo dục
học sinh gặp khó khăn trong học tập, cá bịt trong đạo đức…
Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại trà tại trường Tiểu học
Nguyễn Tất Thành.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Xác định các nguyên nhân chính đã dẫn đến một số em có hành vi chưa
đúng, chưa có động cơ học tập, có đạo đức phẩm chất chưa tốt…. Qua đó, giúp
cho các em định hướng được ý nghĩa của cuộc sống, định hướng được hành vi
và có động cơ học tập tốt hơn.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng học sinh cấp tiểu học ở những độ tuổi khác nhau cũng có nhiều
dạng khác nhau: Đa phần các em rất ngoan, hiền và biết vâng lời thầy cô giáo.
Nhưng cũng có một số em thì ngang bướng, ngỗ nghịch… Trong đối tượng học
sinh này có một dạng gọi là “học sinh cá biệt”. Đó là những học sinh luôn tạo ra
nhiều sự phiền hà và bận rộn hơn cho giáo viên. Để đưa các em học sinh dạng cá
biệt này vào khuôn khổ không phải giáo viên nào cũng thành công trong việc giáo
dục và giảng dạy.
Chính vì lẽ đó, nên tôi chọn đề tài “Một vài biện pháp rèn luyện và giáo
dục học sinh gặp khó khăn trong học tập” này để làm sáng kiến - kinh nghiệm
cho bản thân cũng như cho các đồng nghiệp tại đơn vị trường Tiểu học Nguyễn
Tất Thành, huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk.
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứ lí luận: Nghiên cứa các vấn đề lí luận về tâm lí
lứa tuổi học sinh cấp tiểu học trên sách, báo, tập san giáo dục, các bài tham luận
trên Internet…
- Phương pháp quan sát, đối chiếu: Trực tiếp thực hiện trò chuyện trực
tiếp với từng học sinh đang gặp khó khăn về học tập. Trực tiếp thực hiện các
tiết dạy ở các lớp có học sinh đăng gặp khó khăn trong học tập và những lớp
thuận lợi đẻ có sự so sánh. Từ đó đúc rút kinh nghiệm và tìm ra biện pháp giáo
dục phù hợp với học sinh còn gặp khó khăn trong học tập.
- Phương pháp đàm thoại: Ngoài việc trao đổi trực tiếp với học sinh trong
và ngoài giờ học ở trường thì bản thân người nghiên cứu còn trao đổi với đồng
nghiệp, những người thân trong gia đình và bạn bè của những học sinh cần
được giúp đỡ.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tham khảo những kinh nghiệm của
đồng nghiệp trong trường và các trường bạn. Rút kinh nghiệm thực tế của bản
thân.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận :
Nghề dạy học nhất là giáo viên dạy bậc tiểu học cũng không tránh khỏi
những vấn đề nan giải. Khi đã chọn cho mình cái nghề này, nó sẽ gắn bó với mình
suốt cả cuộc đời, người giáo viên sẽ sẵn sàng đón nhận bất cứ đối tượng học sinh
nào để dạy dỗ cho các em trở thành người có đức, có tài.
Học sinh tiểu học ở lứa từ 6 đến 11 tuổi, các em rất nghịch, hiếu động,
chưa làm chủ được bản thân, chưa nhận thức được điều gì là đúng và điều gì là sai,
hay bắt chước và chịu tác động của mọi việc xảy ra xung quan mình. Chính vì thế,
nếu môi trường tác động tốt thì các em sẽ có những hành vi và đạo đức tốt, còn
ngược lại thì sẽ rất tồi tệ, có thể các em sẽ hư hỏng, dối trá, mất tư cách, đạo đức
kém….
Tuy nhiên ở lứa tuổi này, các em cũng rất thích được tán dương, khen ngợi.
Vì vậy chúng ta cần những giải pháp thích hợp để giáo dục và định hướng đúng
đắn cho các em học sinh trong các hoạt động giáo dục, học tập và vui chơi lành
mạnh, phù hợp với lứa tuổi của các em. Chúng ta không thể áp dụng cách thức
giáo dục cho lớp mẫu giáo vào bậc tiểu học, cũng không thể áp dụng cách thức
giáo dục cho bậc trung học vào học sinh tiểu học. Có như vậy, chúng ta mới giáo
dục học sinh ở bậc tiểu học phát triển một cách đúng nhất về nhân cách cũng như
nhận thức của lứa tuổi mình, đặc biệt là các học sinh còn gặp khó khăn trong học
tập.
Với học sinh gặp khó khăn trong học tập và “cá biệt” cần có những biện
pháp riêng, phù hợp với hoàn cảnh của từng em, mà từ đó mới hướng các em đi
vào nề nếp. Muốn làm điều đó giáo viên cần phải có những hiểu biết nhất định về
từng hoàn cảnh, từng nguyên nhân tạo nên những học sinh “cá biệt” đó và từ đó
xây dựng các biện pháp riêng cụ thể áp dụng cho từng em học sinh còn gặp khó
khăn trong học tập.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong quá trình giảng dạy và làm công tác quản lý, bản thân cũng thường
xuyên gặp những đối tượng học sinh cá biệt này. Nếu không có biện pháp giáo dục
hữu hiệu, các học sinh này nhiều khả năng sẽ bỏ học giữa chừng hoặc có những
biểu hiện chống lại thầy cô hoặc không nắm được kiến thức căn bản… Để giúp đỡ
những học sinh còn gặp khó khăn trong học tập này thì chúng ta cần chú ý 2 vấn đề
sau :
* Vấn đề thứ nhất: sự tác động của gia đình và xã hội với học sinh lứa
tuổi bậc tiểu học:
Đối với trẻ thơ được sống trong môi trường giáo dục của gia đình không
tốt, với những hành vi ứng xử của cha, mẹ, anh, chị… nề nếp và gia phong của gia
đình thiếu chuẩn mực đã tác động và ảnh hưởng đến nhân cách của học sinh ở lứa
tuổi này. Vì vậy tác động của người xung quanh, nhất là những người thường
xuyên gần gũi chúng rất là quan trọng.
* Vấn đề thứ hai : Phải xác định được vị trí và mối quan hệ giữa giáo viên
với học sinh trong quá trình dạy và học.
Phải xem học sinh là trung tâm của vấn đề, trong hoạt động dạy và học, bao
giờ cũng nên xem việc giảng dạy và giáo dục chỉ là tác nhân, còn học sinh xuất
hiện với tư cách là chủ thể được giáo dục. Chúng hoàn toàn chủ động trong mọi
công việc từ nhận thức tư duy, đến thái độ và hành vi ứng xử của chúng. Giáo viên
chỉ là người cố vấn, định hướng, dẫn dắt, chỉ bảo, nhắc nhở, động viên cho các em
có được những nhận tức, tư duy và hành vi ứng xử một cách đúng đắn, lễ phép.
Tuy nhiên, nhân cách của học sinh bậc tiểu học cũng chịu sự tác động rất lớn
của xã hội. Nếu như chúng bị lôi kéo bởi bạn bè, nhóm thanh niên hư hỏng khác,
thì nhất định nhân cách của các em cũng bị ảnh hưởng. Nếu như chúng có môi
trường vui chơi, giải trí lành mạnh, được tiếp cận với những thông tin hữu ích thì
chúng sẽ trở thành người có nhân phẩm tốt.
2.1 Thuận lợi.
Công tác giáo dục luôn được Đảng, Chính quyền địa phương quan tâm. Điều
kiện về CSVC phục vụ công tác giáo dục của nhà trường cơ bản đáp ứng đủ theo
yêu cầu tối thiểu của ngành. Học sinh được hướng dẫn chuẩn bị sách - vở và dụng
cụ học tập từ đầu năm học.
Học sinh đa phần là con em người gốc Huế (do Bố, mẹ, ông, bà đi làm kinh
tế mới từ năm 1986 theo chế độ của nhà nước) nên có truyền thống hiếu học và
thực hiện khá tốt trong việc xã hội hóa giáo dục.
Đội ngũ giáo viên với tinh thần hăng hái, chuẩn bị tâm thế vững vàng bước
năm học mới, có trình độ đào tạo: Thạc sĩ 0, Thạc sĩ 0, Đại học 14/19, tỉ lệ 73,7%.
Cao đẳng 04/19, tỉ lệ 21%. Trung học Sư phạm 01, tỉ lệ 5,3%.
2.2 Khó khăn.
Là một trường nằm trên địa bàn vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, Cha mẹ học
sinh chủ yếu là làm thuần nông. Con em đồng bào dân tộc thiểu số: 62/298 chiếm
tỷ lệ 21%; Một số học sinh chưa có động cơ học tập; cha mẹ ít có sự quan tâm đến
việc học tập của các em.., sự phối, kết hợp giữa các ban ngành đoàn thể của chính
quyền địa phương trong công tác giáo dục chưa chặt chẽ. Một số thôn (5,6) tỉ lệ
học sinh hộ nghèo, cận nghèo còn cao vì có phần ảnh hưởng đến điều kiện học tập
của học sinh.
Nhiều học sinh do bố mẹ đi làm công nhân xa tại Bình Dương, Tp Hồ Chí
Minh… nên phải ở nhà với ông bà nội, ngoại già yếu. Vì vậy còn nhiều hạn chế
trong việc hỗ trợ học sinh học tập ở nhà.
2.3 Khảo sát thực tiễn.
+ Học sinh gặp khó khăn trong học tập tại trường Tiểu học Nguyễn Tất
Thành năm học 2023 – 2024 gồm có 07 em ở lớp 3A; 5A; 5B
+ Tổng số học sinh cả 3 lớp có học sinh gặp khó khăn trong học tập là 69
em. Tổng số học sinh toàn trường là 298 em.
3. Các biện pháp nghiên cứu
Qua thống kê và theo dõi trong 3 lớp (3A,5A,5B) hiện nay có 07 em học
sinh thuộc diện gặp khó khăn trong học tập như sau:
3.1 Diện học sinh gặp khó khăn về học tập:
Đây là những học sinh lười học tập, không chịu lắng nghe giảng bài, thường
vắng học và có kết quả học tập chưa cao. Kết quả khảo sát đầu năm gồm 07 em
chiếm tỉ lệ là trên 2,3%. Đa số các em đọc còn kém, chữ viết còn rất xấu, các phép
tính cơ bản thực hiện còn rất chậm... Trong số 07 em thuộc diện gặp khó khăn
trong học tập được theo dõi và chi tiết như sau:
TT
1
Họ và tên
Hồ Xuân Hưng
Lớp
3A
Những khó khăn trong học tập mà học
sinh gặp phải
Đọc chậm, viết sai chính tả, không biết
thực hiện phép tính.
2
Nguyễn Hữ Hạo Nam
3A
3
Hồ Văn Khoa
3A
4
Nguyễn Ngọc Bảo Minh
5A
5
Lê Công Hoàng
5A
6
Đặng Văn Thuật
5B
7
Nguyễn Phan Bảo Long
5B
Chưa viết được câu hoàn chỉnh, sai chính
tả, tính toán rất chậm
Tính toán chậm, sai nhiều, viết chậm
không đúng chính tả, đọc chậm
Viết yếu, tính toán chậm
Đọc quá chậm, viết sai từ, tính toán chưa
thạo
Tính toán chậm, ít tập trung trong giờ
học
Tính toán chậm, không chính xác, yếu
môn toán
3.2 Diện học sinh cá biệt về đạo đức:
Qua khảo sát từ đầu năm học 2023 - 2024, cả trường có 03 em (3/298) có đạo đức
chưa tốt, chiếm tỉ lệ là: 1,0% (3 em này trong diện 07 học sinh gặp khó khăn về
học tập). Hầu hết các em này học kém, nói tục, chửi thề và rất hay đánh nhau với
bạn bè trong lớp cũng như ở lớp khác. Các em thường hay vắng học không lý do,
hỏi ít chịu trả lời…. Trong đó có các em sau:
TT
Họ và tên
Lớp
Những cá biệt về đạo đức mà học sinh
gặp phải
1
Hồ Xuân Hưng
3A
Hay nghỉ học không có lí do, hay chửi
tục, đánh nhau trong lớp (đã ở lại lớp 2
năm)
2
Lê Công Hoàng
5A
Hay đánh nhau với bạn, hung dữ, nói tục,
không chịu vâng lời thầy cô
3
Nguyễn Phan Bảo Long
5B
Hỏi ít chịu nói, sai không nhận lỗi
3.3. Nguyên nhân của thực trạng:
Qua điều tra cũng như trao đổi với gia đình của từng học sinh, nguyên nhân
khiến các em trở thành học sinh gặp khó khăn trong học tập và cá biệt về đạo đức
của các lớp là:
+ Gia đình lo việc làm ăn, không dành thời gian lo cho con cái, khoán trắng sự
giáo dục cho nhà trường.
+ Đa số các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, neo đơn. Nhiều em là con đầu
lòng phải phụ giúp cho cha mẹ trong việc đi làm nương rẫy, lo cho em còn
nhỏ….
+ Ảnh hưởng phim ảnh không lành mạnh trên mạng Internet, vì tò mò, bị rủ rê
từ những thanh niên ham chơi, lêu lỏng trong thôn xóm.
+ Bản thân bố mẹ không làm gương cho con cái noi theo.
+ Gia đình không hòa thuận, con cái ở với ông bà....
3.4. Các biện pháp để tiến hành giải quyết:
Căn cứ vào những thực trạng đã điều tra, cả những nguyên nhân dẫn đến
thực trạng ấy. Tôi nhận thấy rằng, bởi lẽ các em trở thành học sinh cá biệt về
đạo đức như vậy là do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến những nguyên
chính là do: hoàn cảnh gia đình, sự thờ ơ của xã hội và gia đình trong việc giáo
dục và dạy dỗ các em. Từ đó tôi có cơ sở để đề xuất các giải pháp như sau:
a) Về phía giáo viên chủ nhiệm:
+ Trước hết phải có cái “Tâm”. Xuất phát từ chữ tâm ấy sẽ dễ dàng tiếp
cận được các em học sinh, sự bao dung và sự chịu khó sẽ giúp cho giáo viên dễ
dàng thuyết phục giáo dục được các học sinh cá biệt. Cũng từ chữ tâm ấy, sẽ đẩy
trách nhiệm, nghĩa vụ của giáo viên chủ nhiệm lên tầm cao hơn, từ đó trăn trở, suy
nghĩ đưa ra biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng.
+ Giáo viên phải tôn trọng học sinh dạng cá biệt này, dù các hành vi của các
em có thể gây xúc phạm đến danh dự của mình. Đồng thời phải có lòng tin với các
em, tin tưởng các em để giao một số công việc phù hợp của lớp cho các em phụ
trách.
+ Tuyệt đối, giáo viên không được xúc phạm danh dự đến các em học sinh
trước tập thể lớp.
+ Giáo viên phải chịu khó lắng nghe tâm sự của các em, thường xuyên quan
tâm và hỏi thăm, chăm sóc các em trong các điều kiện có thể. Từ đó mới tìm hiểu
được nguyên nhân chính dẫn đến sự cá biệt của các em mà tìm giải pháp cho phù
hợp, an ủi và động viên kịp thời các em khi phát hiện những bi kịch, chuyện buồn
mà gia đình cũng như xã hội mang lại.
+ Giáo viên phải biết khơi gợi lòng tin cậy và tìm cách giao việc của lớp
phù hợp với khả năng của học sinh (cá biệt về đạo đứ) và tìm cách khen ngợi các
em trước tập thể lớp khi các em hoàn thành công việc mà giáo viên chủ nhiệm
giao.
Với những vấn đề trên, nếu giáo viên áp dụng được sẽ rất dễ dàng tiếp cận
và tìm hiểu mọi vấn đề phát sinh khi cần thiết. Thực tế trong những năm qua, với
những vấn đề ấy, bản thân tôi đã được các em học sinh cá biệt phải tôn trọng. Ban
đầu các học sinh cá biệt sống rất tách rời tập thể, thấy cô giáo thì ghét, chửi thề...,
xong dần dần, tôi đã giúp cho các em hiểu được vấn đề và hiện nay đa số các em
sống rất gần gũi với lớp. Đặc biệt bất kỳ chuyện gì xảy ra, dù lớn hay nhỏ các em
này cũng đều tâm sự và chia sẻ với tôi từ niềm vui đến nỗi buồn. Chính đều đó dần
dần, tôi đã giúp các em tránh được tự ti và mặc cảm ban đầu.
b) Về phía học sinh:
+ Giáo viên chủ nhiệm phải nắm được đặc điểm, hoàn cảnh cụ thể của từng
gia đình học sinh cá biệt. Để từ đó cảm thông, tránh sự xúc phạm vô tình đến các
em và đồng thời tạo nhiều điều kiện hơn để các em phát huy học tập và rèn luyện
+ Giáo viên phải tìm hiểu, khai thác những điểm tốt và điểm yếu cơ bản
nhất của học sinh để tác động làm thay đổi tính cách của học sinh cá biệt
+ Giáo viên phải hiểu những suy nghĩ và những điều học sinh muốn. Có
như vậy mới giúp các em tháo gỡ được những điểm yếu của mình để đạt được điều
mình mong muốn chính đáng.
c) Về phía gia đình:
+ Giữa nhà trường và gia đình phải có sự kết hợp chặc chẽ, sự kết hợp giáo
dục này phải diễn ra thật tế nhị và thường xuyên. Tránh những hành động nóng
nảy của gia đình đối với học sinh như: đánh con khi nghe cô giáo đến thưa chuyện
….
+ Phải thuyết phục được gia đình tạo mọi điều kiện tốt nhất để con, em
mình học tập, đồng thời nhắc nhở phụ huynh phải thường xuyên quan tâm đến việc
học của con em mình. Gia đình phải xem việc giáo dục con em không phải là chỉ
riêng nhà trường mà cần phải có một phần trách nhiệm rất lớn từ gia đình.
3.5. Các giải pháp chủ yếu:
Năm học 2023 - 2024 với vai trò là Phó hiệu trưởng phụ trác chuyên môn,
đảm bảo về mặt chất lượng đại trà của nhà trường. Ngoài ra tôi được nhà trường
phân công phối hợp cùng giáo viên Tổng phụ trách đội và giáo chủ nhiệm các lớp
cùng uốn nắn và giáo dục một số học sinh cá biệt về đạo đức và gặp khó khăn trong
học tập ở một số lớp nới riêng và toàn trường Tiểu học Nguyễn Tất Thành nói
chung. Từ những nghiên cứu và việc làm cụ thể bản thân tôi đã đưa ra những giải
pháp chủ yếu như sau :
a) Tìm hiểu được căn nguyên của từng học sinh cá biệt:
Sau khi đã xác định được các đối tượng học sinh thuộc diện gặp khó khăn
trong học tập và cá biệt về đạo đức trong lớp cần tổ chức theo dõi và đánh giá một
cách khách quan, trung thực, đúng bản chất của vấn đề. Liệt kê ra các nguyên
nhân, các lý do mà các em thường vi phạm và mắc phải; liệt kê số lần các em vi
phạm, sau mỗi lần đó đã có ai nhắc nhở, giáo dục chưa? Đã cho các em suy ngẫm
về lỗi của mình và đã hứa khắc phục hay chưa ?.... cần phải ghi chép rõ ràng để
làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp giáo dục.
Trở lại với tình hình học sinh thuộc diện gặp khó khăn trong học tập và cá
biệt về đạo đức của 3 lớp tôi đã cùng với giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên Tổng
phụ trách đội theo dỗi và thấy nổi lên có 07 học sinh rất cần có sự giúp đỡ đặc
biệt. Những em này vi phạm nhiều lần, nhắc nhở nhiều lần mà các em vẫn cứ tái
phạm. Qua tìm hiểu từ bạn bè và đặc biệt tôi đến từng nhà của từng học sinh tìm
hiểu và trao đổi trực tiếp với phụ huynh của các em học sinh này, tôi có nhận xét :
Em: Lê Công Hoàng - Đầu năm, em học rất yếu, lại hay thích đánh nhau, nói
tục, chửi thề. Gia đình em về kinh tế tương đối ổn định, em lại ở với ông bà nội (dó
bố ,mẹ đi làm ăn xa) nên em thường trốn học chơi game, bị các anh lớn tuổi hơn rủ
rê hút thuốc lá điện tử...... Nên tạo cho em tính cách rất giang hung hăng, bất cần.
Sau khi trực tiếp trao đổi với gia đình và đưa ra các biện pháp áp dụng, kiên quyết.
Đến nay em Hòang không những đã trở thành học sinh tích cực trong học tập mà
các tính xấu đã thay đổi, luôn giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn, biết vâng lời, phát
biểu bài sôi nổi.
Em: Hồ Xuân Hưng (lớp 3A) là thuộc dạng rất cá biệt về đạo đức như hay
chửi thề, thường xuyên bỏ học đi chơi, tính cách rất nóng nảy, nói không biết vâng
lời, học rất yếu. Gia đình em bố mẹ bỏ nhau và đi làm công nhân ở Bình Dương
em ở nhà với bà ngoại. Do em ở lại 2 năm ở lớp 1 nên tuổi của em hơn so với các
bạn trong lớp 2 tuổi nên em tỏ ra mình là “đại ca” của lớp. Thường tụ tập đám bạn
bè khối lớp 5 và một số các bạn học (THCS) lớp 6,7 chơi game…. Bỏ bê việc học,
thích đánh nhau. Qua quá trình giáo dục, nay em đã thay đổi cơ bản những tính xấu
này, biết vâng lời, đi học đều, biết cố gắng học tập và đã vươn lên mức học trung
bình.
b) Xây dựng biện pháp giáo dục cho từng đối tượng:
Sau khi tìm hiểu nguyên nhân của từng đối tượng học sinh thuộc diện gặp khó
khăn trong học tập và cá biệt về đạo đức tôi đã đưa ra các phương án cụ thể cho
từng em.
* Nhóm học yếu nhưng biết vâng lời, ham học hỏi: (các em: Nam, Khoa,
Minh, Thuật).
Với nhóm những học sinh thuộc diện gặp khó khăn trong học tập và những
em này xét về gia cảnh thì khó khăn, các em không có thời gian học tập nên có kết
quả học tập yếu kém. Thực hiện các biện pháp như :
+ Phân công các bạn học khá hơn kèm cặp, cùng làm các bài tập ở nhà hoặc
tập viết chính tả, tranh luận các từ sai.
+ Hàng ngày giáo viên chủ nhiệm cần giúp đỡ các em trong học tập, giảng lại
những bài mà các em chưa hiểu, giúp các em hoàn thành các bài tập bằng tự lực
bản thân.
+ Nhắc nhở tất cả các giáo viên bộ môm, giáo viên chủ nhiệm khi giảng bài
thường chú ý và hỏi bài đến các đối tượng này, để theo dõi việc hiểu bài của các
em mà giảng chậm hoặc giảng lại.
+ Trao đổi với phụ huynh, nên giành thời gian cho các em học tập. Bố trí cho
các em tổ chức đến nhà cùng nhau ôn tập và rèn luyện bài vở.
* Nhóm các học sinh cá biệt về đạo đức: (các em: Hưng, Hoàng, Long).
Đây là các em thường có học lực yếu, đi đôi với hành vi đạo đức không tốt,
thường ảnh hưởng đến sự học tập của lớp. Biện pháp đưa ra:
+ Gặp riêng từng em, hỏi thăm việc học tập và gia đình của các em. Sau đó
phân tích những hành vi mà các em đã gây ra đúng sai như thế nào? Tìm hiểu lý do
vì sao các em đó lại có hành vi ấy?
+ Gặp gia đình, trao đổi và thống nhất các biện pháp giáo dục như:
* Hạn chế cho các em tham gia vào các nhóm thanh niên hư hỏng ở địa
phương cũng như không cho tham gia vào các tệ nạn như: chơi game, hút thốc lá
điện tử...
* Thiết lập sổ theo dõi giữa gia đình và lớp. Tuần nào giáo viên chủ nhiệm
cũng đánh giá nhận xét việc học tập cũng như hành động của các em vào sổ gửi về
cho bố mẹ. Và đồng thời cũng lấy ý kiến từ gia đình để giáo viên có biện pháp giáo
dục khác. Từ đó gia đình luôn nắm bắt được tình hình học tập của con em mình,
cùng với nhà trường kèm cặp học sinh tốt hơn. Hạn chế đánh giá xấu, tiêu cực về
các em trước bạn bè. Giáo viên chủ nhiệm tìm điểm tốt để khen và khích lệ học
sinh một cách thường xuyên.
* Giao cho các em một số nhiệm vụ ở lớp.
Thí dụ: Đối với em Lê Công Hoàng (5A) giao cho nhiệm vụ đôn đốc các
bạn làm vệ sinh lớp, vệ sinh khu vực; bê bình nước uống cho các em khối lớp
1,2,3... Đối với em Hồ Xuân Hưng (3A), em Nguyễn Phan Bỏ Long (5B) giao cho
nhiệm vụ theo dõi các bạn xếp hàng ra vào lớp, ghi tên những bạn nói bậy, đánh
nhau.
* Trong các giờ sinh hoạt lớp giao các em nhận xét tình hình lớp trong tuần,
có bạn nào vi phạm khuyết điểm hay không. Giáo viên chủ nhiệm nhận xét lại và
tìm hiểu thêm các chi tiết để nhận định, biểu dương.
* Từ những nhiệm vụ được giao đó, tạo cho các em có ý thức hơn trong học
tập, tư cách đạo đức của mình với tập thể, dần dần các em sẽ nhận ra những sai
phạm của mình với bàn bè xung quanh để mà sửa đổi thành những người tốt với
bản thân và với tập thể lớp.
* Từ những nhiệm vụ được giao, giáo viên phải biết tán dương, khen
thưởng, động viên các em khi thực hiện tốt nhiệm vụ. Từ đó giúp cho các em hiểu
được mình vẫn còn có giá trị trong lớp, có khả năng thực hiện tốt các việc khác.
* Bên cạnh đó cũng nghiêm khắc kiểm điểm, thẳng thắng phê bình các em
học sinh vẫn còn vi phạm các hành vi đạo đức. Buộc các em phải ghi ra những lời
hứa khắc phục và thời gian khắc phục
* Một số em có tính nóng nảy, hay gây sự, nếu giáo dục nhiều lần không
thay đổi, gia đình buông xuôi, thì nên liên hệ với Đoàn thanh niên thôn (buôn), các
đoàn thể của đại phương, công an xã…. Để kết hợp giáo dục.
3.6. Tổ chức, triển khai thực hiện:
Thông qua các cuộc sinh hoạt lớp, các hoạt động giảng dạy… giáo viên chủ
nhiệm biểu dương, khen ngợi các em đã có nhiều tiến bộ trong học tập cũng như
trong việc rèn luyện đạo đức. Đặc biệt là các học sinh cá biệt phải quan tâm vấn đề
này lên hàng đầu. Tổ chức cho các em giao lưu văn hóa, văn nghệ để hiểu nhau
hơn. Bên cạnh đó, giáo viên cũng phải nghiêm khắc phê bình những em học sinh
không chịu rèn luyện tu dưỡng đạo đức và học tập. Giao cho lớp trưởng, tổ trưởng
theo dõi và báo cáo tình hình hoạt động của các học sinh thuộc diện gặp khó khăn
trong học tập và cá biệt về đạo đức thường xuyên để giáo viên kịp thời xử lý không
để quá muộn.
4. Kết quả ứng dụng
Tính từ đầu năm học áp dụng các biện pháp giáo dục nêu trên cho đến cuối
học kỳ I năm học 2023 – 2024, kết quả đạt được tại đơn vị trường Tiểu học
Nguyễn Tất Thành huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk như sau:
4.1. Nhóm học sinh gặp khó khăn về học tập:
Đầu năm có 07 thuộc diện gặp khó khăn trong học tập và cá biệt về đạo đức đến
hết học kỳ I chỉ còn 01 em chiếm tỉ lệ 0,34%, giảm 1,96 % so với đầu năm. Đa số
các em đã biết thực hiện những phép tính toán cơ bản, đọc thông, viết đúng chính
tả. Tuy nhiên vẫn còn em Hồ Văn Khoa (3A) học yếu do hoàn cảnh của em quá
đặc biệt về chậm phát triển trí tuệ, gia đình chưa thực sự quan tâm đưa em đi khám
và làm chứng nhận học sinh khuyết tật về trí tuệ.
4. 2 Nhóm học sinh cá biệt về đạo đức:
Đầu năm có 03 em, đến nay không còn em nào thuộc dạng cá biệt về đạo đức.
Các em đã biết vâng lời thầy cô giáo và người lớn, không còn nói tục, chửi thề tại
trường học, không còn tình trạng đánh nhau trong và ngoài nhà trường. Một số em
từ là học sinh có đạo đức kém bây giờ trở thành lớp phó phụ trách trật tự của lớp
và có đạo đức tốt, được các em học sinh khác yêu mến. Trong đó có em Lê Công
Hoàng và em Nguyễn Ngọc Bảo Minh, đã tiến bộ rất nhiều, các em tham gia phát
biểu bài sôi nổi, biết giúp đỡ bạn trong lớp, và tham gia đầy đủ các hoạt động của
lớp và của trường tổ chức.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trong suốt gần một năm học thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy hài lòng vì đa
số các học sinh thuộc diện gặp khó khăn trong học tập và cá biệt về đạo đức đã
nhận thức đúng đắn về hành vi học tập và rèn luyện đạo đức của mình. Các em có
hành vi đạo đức chưa tốt đã ngoan lên rất nhiều, các em có học lực yếu kém giờ
cũng đã cải thiện, từ viết sai chính tả, đọc không thông, làm toán không được, bây
giờ các em đã tự thực hiện được các vấn đề cơ bản của bộ môn Tiếng việt và môn
Toán. Tất cả các nội dung cần điều tra hầu như đều tăng tuy chưa đạt 100% nhưng
bước đầu các em đã biết hòa đồng cùng bạn bè, biết đoàn kết và biết bảo vệ của
chung. Tôi thiết nghĩ rằng, việc giáo dục cho học sinh gặp khó khăn trong học tập
và cá biệt về đạo đức là một việc làm rất khó khăn và mất thời gian. Tuy nhiên với
những kinh nghiệm của bản thân cũng như trách nhiệm của người quản lý tôi đã cố
gắng từng bước khắc phục những khó khăn trước mắt để tạo điều kiện và giúp đỡ
các học sinh gặp khó khăn trong học tập và cá biệt về đạo đức vươn lên, tiến bộ
hơn trong thời gian tới. Nếu chúng ta hiểu được tâm sinh lí của từng đối tượng học
sinh, thật sự quan tâm đến các em, nắm được tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh gia
đình các em thì chúng ta sẽ đưa ra được các biện pháp giáo dục chính xác và phù
hợp nhất. Chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao, các em sẽ nhanh chóng trở thành
đội viên tốt, xứng đáng cháu ngoan Bác Hồ.
2. Kiến nghị
- Ban giám hiệu nhà trường cần có những hỗ trợ cần thiết khi giáo viên
chủ nhiệm gặp khó khăn trong việc tiếp cận với gia đình học sinh gặp khó khăn
trong học tập và cá biệt về đạo đức hoặc tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên
liên hệ làm việc với các ban ngành (Đoàn, Hội, Đội, các tổ chức xã hội khác...)
khi cần thiết để giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong học tập và cá
biệt về đạo đức .
- Nhà trường phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, gióa viên Tổng phụ trách
Đội, anh chị phụ trách các chi đội, các lớp sao nhi để tổ chức các hoạt động sinh
hoạt chủ điểm, các tròi chơi dân gian.... Thi đua học tập, tuyên truyền dương
người tốt, việc tốt tại trường và ở địa phương để giáo dục học sinh một các gần
gủi và thiết thực nhất.
Ea hu, ngày 10 tháng 04 năm 2024
Người thực hiện
Lê Đình Tuấn
Ý kiến nhận xét, đánh giá và xếp loại của nhà trường
..........................................................................................
..........................................................................................
.........................................................................................
...........................................................................................
..........................................................................................
..........................................................................................
..........................................................................................
..........................................................................................
..........................................................................................
HIỆU TRƯỞNG
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN VÀ GIÁO DỤC
HỌC SINH GẶP KHÓ KHĂN TRONG HỌC TẬP
VÀ CÁ BIỆT VỀ ĐẠO ĐỨC
Người thực hiện: Lê Đình Tuấn
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Ea Hu, tháng 04 năm 2024
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CƯ KUIN
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN VÀ GIÁO DỤC
HỌC SINH GẶP KHÓ KHĂN TRONG HỌC TẬP
VÀ CÁ BIỆT VỀ ĐẠO ĐỨC
Người thực hiện: Lê Đình Tuấn
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Ea Hu, tháng 04 năm 2024
Mục lục:
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài …………………………………………….. .Trang 4
2. Mục đích nghiên cứu …………………………………………. Trang 4
3. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………. Trang 4
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ……………………………… .. Trang 4
5. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………. Trang 4
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận của vấn đề ……………………..……………….. Trang 5
2. Cơ sở thực tiễn ………………………………………………… Trang 6
2.1 Thuận lợi ………………………………………………………Trang 6
2.2 Khó khăn ……………………………………………………….Trang 7
2.3 Khảo sát thực tiễn ……………………………………………....Trang 7
3. Các biện pháp nghiên cứu ……………………………………….Trang 7
3.1 Diện học sinh gặp khó khăn trong học tập ……………………..Trang 7
3.2 Diện học sinh cá biệt về đạo đức ……………………………….Trang 8
3.3 Nguyên nhân của thực trạng …………………………………...Trang 8
3.4 Các biện pháp tiến hành giả quyết …………………………..…Trang 9
3.5 Các giải pháp chủ yếu ………………………………………….Trang 10
3.6 Tổ chức triển khai thực hiện ……………………………………Trang 12
4. Kết quả ứng dụng…………………………………………..…….Trang 13
4.1 Nhóm học sinh gặp khó khăn về học tập ………………………Trang 13
4.2 Nhóm học sinh cá biệt về đạo đức ……………………………..Trang 13
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN GHỊ
1. Kết luận …………………………………………………. ……..Trang 13
2. Kiến nghị ………………………………………………………. Trang 14
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong bất kì giai đoạn nào, xã hội nào, nghề giáo viên cũng luôn được đề
cao và quý trọng. Đặc biệt là trong chế độ xã hộ chủ nghĩa, nghề giáo lại càng
được tôn vinh và được xem là một nghề “cao quý nhất trong các nghề cao quý” .
Cái nghề “truyền chữ”, “trồng người” này lại không đơn giản, nhất là ở lứa tuổi
của các em học sinh bậc tiểu học mới chập chững làm quen với mái trường, thầy
cô, bạn bè... Đây là lứa tuổi rất nhạy cảm và rất dễ bắt trước với những cái tiêu
cực, cái thiếu chuẩn mực của xã hội. Vì vậy nếu không giáo dục, không uốn nắn
các em ngay từ đầu thì rất dễ để cho các em phạm phải những sai lầm đáng tiếc
khi mà các em chưa làm chủ được bản thân.
2. Mục đích nghiên cứu
Giúp cho các em học sinh nắm vững các kiến thức cơ bản ở bậc tiểu học
nói chung và kiến thức ở từng khối lớp nói riêng. Đồng thời qua đó giáo dục,
uốn nắn, bồi dưỡng, giáo dục các em từ những học sinh cá biệt, quậy phá, lười
học… trở thành người có ích cho xã hội sau này.
Chia sẻ, giúp đỡ đồng nghiệp có thêm kinh nghiệm trong cách giáo dục
học sinh gặp khó khăn trong học tập, cá bịt trong đạo đức…
Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại trà tại trường Tiểu học
Nguyễn Tất Thành.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Xác định các nguyên nhân chính đã dẫn đến một số em có hành vi chưa
đúng, chưa có động cơ học tập, có đạo đức phẩm chất chưa tốt…. Qua đó, giúp
cho các em định hướng được ý nghĩa của cuộc sống, định hướng được hành vi
và có động cơ học tập tốt hơn.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng học sinh cấp tiểu học ở những độ tuổi khác nhau cũng có nhiều
dạng khác nhau: Đa phần các em rất ngoan, hiền và biết vâng lời thầy cô giáo.
Nhưng cũng có một số em thì ngang bướng, ngỗ nghịch… Trong đối tượng học
sinh này có một dạng gọi là “học sinh cá biệt”. Đó là những học sinh luôn tạo ra
nhiều sự phiền hà và bận rộn hơn cho giáo viên. Để đưa các em học sinh dạng cá
biệt này vào khuôn khổ không phải giáo viên nào cũng thành công trong việc giáo
dục và giảng dạy.
Chính vì lẽ đó, nên tôi chọn đề tài “Một vài biện pháp rèn luyện và giáo
dục học sinh gặp khó khăn trong học tập” này để làm sáng kiến - kinh nghiệm
cho bản thân cũng như cho các đồng nghiệp tại đơn vị trường Tiểu học Nguyễn
Tất Thành, huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk.
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứ lí luận: Nghiên cứa các vấn đề lí luận về tâm lí
lứa tuổi học sinh cấp tiểu học trên sách, báo, tập san giáo dục, các bài tham luận
trên Internet…
- Phương pháp quan sát, đối chiếu: Trực tiếp thực hiện trò chuyện trực
tiếp với từng học sinh đang gặp khó khăn về học tập. Trực tiếp thực hiện các
tiết dạy ở các lớp có học sinh đăng gặp khó khăn trong học tập và những lớp
thuận lợi đẻ có sự so sánh. Từ đó đúc rút kinh nghiệm và tìm ra biện pháp giáo
dục phù hợp với học sinh còn gặp khó khăn trong học tập.
- Phương pháp đàm thoại: Ngoài việc trao đổi trực tiếp với học sinh trong
và ngoài giờ học ở trường thì bản thân người nghiên cứu còn trao đổi với đồng
nghiệp, những người thân trong gia đình và bạn bè của những học sinh cần
được giúp đỡ.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tham khảo những kinh nghiệm của
đồng nghiệp trong trường và các trường bạn. Rút kinh nghiệm thực tế của bản
thân.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận :
Nghề dạy học nhất là giáo viên dạy bậc tiểu học cũng không tránh khỏi
những vấn đề nan giải. Khi đã chọn cho mình cái nghề này, nó sẽ gắn bó với mình
suốt cả cuộc đời, người giáo viên sẽ sẵn sàng đón nhận bất cứ đối tượng học sinh
nào để dạy dỗ cho các em trở thành người có đức, có tài.
Học sinh tiểu học ở lứa từ 6 đến 11 tuổi, các em rất nghịch, hiếu động,
chưa làm chủ được bản thân, chưa nhận thức được điều gì là đúng và điều gì là sai,
hay bắt chước và chịu tác động của mọi việc xảy ra xung quan mình. Chính vì thế,
nếu môi trường tác động tốt thì các em sẽ có những hành vi và đạo đức tốt, còn
ngược lại thì sẽ rất tồi tệ, có thể các em sẽ hư hỏng, dối trá, mất tư cách, đạo đức
kém….
Tuy nhiên ở lứa tuổi này, các em cũng rất thích được tán dương, khen ngợi.
Vì vậy chúng ta cần những giải pháp thích hợp để giáo dục và định hướng đúng
đắn cho các em học sinh trong các hoạt động giáo dục, học tập và vui chơi lành
mạnh, phù hợp với lứa tuổi của các em. Chúng ta không thể áp dụng cách thức
giáo dục cho lớp mẫu giáo vào bậc tiểu học, cũng không thể áp dụng cách thức
giáo dục cho bậc trung học vào học sinh tiểu học. Có như vậy, chúng ta mới giáo
dục học sinh ở bậc tiểu học phát triển một cách đúng nhất về nhân cách cũng như
nhận thức của lứa tuổi mình, đặc biệt là các học sinh còn gặp khó khăn trong học
tập.
Với học sinh gặp khó khăn trong học tập và “cá biệt” cần có những biện
pháp riêng, phù hợp với hoàn cảnh của từng em, mà từ đó mới hướng các em đi
vào nề nếp. Muốn làm điều đó giáo viên cần phải có những hiểu biết nhất định về
từng hoàn cảnh, từng nguyên nhân tạo nên những học sinh “cá biệt” đó và từ đó
xây dựng các biện pháp riêng cụ thể áp dụng cho từng em học sinh còn gặp khó
khăn trong học tập.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong quá trình giảng dạy và làm công tác quản lý, bản thân cũng thường
xuyên gặp những đối tượng học sinh cá biệt này. Nếu không có biện pháp giáo dục
hữu hiệu, các học sinh này nhiều khả năng sẽ bỏ học giữa chừng hoặc có những
biểu hiện chống lại thầy cô hoặc không nắm được kiến thức căn bản… Để giúp đỡ
những học sinh còn gặp khó khăn trong học tập này thì chúng ta cần chú ý 2 vấn đề
sau :
* Vấn đề thứ nhất: sự tác động của gia đình và xã hội với học sinh lứa
tuổi bậc tiểu học:
Đối với trẻ thơ được sống trong môi trường giáo dục của gia đình không
tốt, với những hành vi ứng xử của cha, mẹ, anh, chị… nề nếp và gia phong của gia
đình thiếu chuẩn mực đã tác động và ảnh hưởng đến nhân cách của học sinh ở lứa
tuổi này. Vì vậy tác động của người xung quanh, nhất là những người thường
xuyên gần gũi chúng rất là quan trọng.
* Vấn đề thứ hai : Phải xác định được vị trí và mối quan hệ giữa giáo viên
với học sinh trong quá trình dạy và học.
Phải xem học sinh là trung tâm của vấn đề, trong hoạt động dạy và học, bao
giờ cũng nên xem việc giảng dạy và giáo dục chỉ là tác nhân, còn học sinh xuất
hiện với tư cách là chủ thể được giáo dục. Chúng hoàn toàn chủ động trong mọi
công việc từ nhận thức tư duy, đến thái độ và hành vi ứng xử của chúng. Giáo viên
chỉ là người cố vấn, định hướng, dẫn dắt, chỉ bảo, nhắc nhở, động viên cho các em
có được những nhận tức, tư duy và hành vi ứng xử một cách đúng đắn, lễ phép.
Tuy nhiên, nhân cách của học sinh bậc tiểu học cũng chịu sự tác động rất lớn
của xã hội. Nếu như chúng bị lôi kéo bởi bạn bè, nhóm thanh niên hư hỏng khác,
thì nhất định nhân cách của các em cũng bị ảnh hưởng. Nếu như chúng có môi
trường vui chơi, giải trí lành mạnh, được tiếp cận với những thông tin hữu ích thì
chúng sẽ trở thành người có nhân phẩm tốt.
2.1 Thuận lợi.
Công tác giáo dục luôn được Đảng, Chính quyền địa phương quan tâm. Điều
kiện về CSVC phục vụ công tác giáo dục của nhà trường cơ bản đáp ứng đủ theo
yêu cầu tối thiểu của ngành. Học sinh được hướng dẫn chuẩn bị sách - vở và dụng
cụ học tập từ đầu năm học.
Học sinh đa phần là con em người gốc Huế (do Bố, mẹ, ông, bà đi làm kinh
tế mới từ năm 1986 theo chế độ của nhà nước) nên có truyền thống hiếu học và
thực hiện khá tốt trong việc xã hội hóa giáo dục.
Đội ngũ giáo viên với tinh thần hăng hái, chuẩn bị tâm thế vững vàng bước
năm học mới, có trình độ đào tạo: Thạc sĩ 0, Thạc sĩ 0, Đại học 14/19, tỉ lệ 73,7%.
Cao đẳng 04/19, tỉ lệ 21%. Trung học Sư phạm 01, tỉ lệ 5,3%.
2.2 Khó khăn.
Là một trường nằm trên địa bàn vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, Cha mẹ học
sinh chủ yếu là làm thuần nông. Con em đồng bào dân tộc thiểu số: 62/298 chiếm
tỷ lệ 21%; Một số học sinh chưa có động cơ học tập; cha mẹ ít có sự quan tâm đến
việc học tập của các em.., sự phối, kết hợp giữa các ban ngành đoàn thể của chính
quyền địa phương trong công tác giáo dục chưa chặt chẽ. Một số thôn (5,6) tỉ lệ
học sinh hộ nghèo, cận nghèo còn cao vì có phần ảnh hưởng đến điều kiện học tập
của học sinh.
Nhiều học sinh do bố mẹ đi làm công nhân xa tại Bình Dương, Tp Hồ Chí
Minh… nên phải ở nhà với ông bà nội, ngoại già yếu. Vì vậy còn nhiều hạn chế
trong việc hỗ trợ học sinh học tập ở nhà.
2.3 Khảo sát thực tiễn.
+ Học sinh gặp khó khăn trong học tập tại trường Tiểu học Nguyễn Tất
Thành năm học 2023 – 2024 gồm có 07 em ở lớp 3A; 5A; 5B
+ Tổng số học sinh cả 3 lớp có học sinh gặp khó khăn trong học tập là 69
em. Tổng số học sinh toàn trường là 298 em.
3. Các biện pháp nghiên cứu
Qua thống kê và theo dõi trong 3 lớp (3A,5A,5B) hiện nay có 07 em học
sinh thuộc diện gặp khó khăn trong học tập như sau:
3.1 Diện học sinh gặp khó khăn về học tập:
Đây là những học sinh lười học tập, không chịu lắng nghe giảng bài, thường
vắng học và có kết quả học tập chưa cao. Kết quả khảo sát đầu năm gồm 07 em
chiếm tỉ lệ là trên 2,3%. Đa số các em đọc còn kém, chữ viết còn rất xấu, các phép
tính cơ bản thực hiện còn rất chậm... Trong số 07 em thuộc diện gặp khó khăn
trong học tập được theo dõi và chi tiết như sau:
TT
1
Họ và tên
Hồ Xuân Hưng
Lớp
3A
Những khó khăn trong học tập mà học
sinh gặp phải
Đọc chậm, viết sai chính tả, không biết
thực hiện phép tính.
2
Nguyễn Hữ Hạo Nam
3A
3
Hồ Văn Khoa
3A
4
Nguyễn Ngọc Bảo Minh
5A
5
Lê Công Hoàng
5A
6
Đặng Văn Thuật
5B
7
Nguyễn Phan Bảo Long
5B
Chưa viết được câu hoàn chỉnh, sai chính
tả, tính toán rất chậm
Tính toán chậm, sai nhiều, viết chậm
không đúng chính tả, đọc chậm
Viết yếu, tính toán chậm
Đọc quá chậm, viết sai từ, tính toán chưa
thạo
Tính toán chậm, ít tập trung trong giờ
học
Tính toán chậm, không chính xác, yếu
môn toán
3.2 Diện học sinh cá biệt về đạo đức:
Qua khảo sát từ đầu năm học 2023 - 2024, cả trường có 03 em (3/298) có đạo đức
chưa tốt, chiếm tỉ lệ là: 1,0% (3 em này trong diện 07 học sinh gặp khó khăn về
học tập). Hầu hết các em này học kém, nói tục, chửi thề và rất hay đánh nhau với
bạn bè trong lớp cũng như ở lớp khác. Các em thường hay vắng học không lý do,
hỏi ít chịu trả lời…. Trong đó có các em sau:
TT
Họ và tên
Lớp
Những cá biệt về đạo đức mà học sinh
gặp phải
1
Hồ Xuân Hưng
3A
Hay nghỉ học không có lí do, hay chửi
tục, đánh nhau trong lớp (đã ở lại lớp 2
năm)
2
Lê Công Hoàng
5A
Hay đánh nhau với bạn, hung dữ, nói tục,
không chịu vâng lời thầy cô
3
Nguyễn Phan Bảo Long
5B
Hỏi ít chịu nói, sai không nhận lỗi
3.3. Nguyên nhân của thực trạng:
Qua điều tra cũng như trao đổi với gia đình của từng học sinh, nguyên nhân
khiến các em trở thành học sinh gặp khó khăn trong học tập và cá biệt về đạo đức
của các lớp là:
+ Gia đình lo việc làm ăn, không dành thời gian lo cho con cái, khoán trắng sự
giáo dục cho nhà trường.
+ Đa số các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, neo đơn. Nhiều em là con đầu
lòng phải phụ giúp cho cha mẹ trong việc đi làm nương rẫy, lo cho em còn
nhỏ….
+ Ảnh hưởng phim ảnh không lành mạnh trên mạng Internet, vì tò mò, bị rủ rê
từ những thanh niên ham chơi, lêu lỏng trong thôn xóm.
+ Bản thân bố mẹ không làm gương cho con cái noi theo.
+ Gia đình không hòa thuận, con cái ở với ông bà....
3.4. Các biện pháp để tiến hành giải quyết:
Căn cứ vào những thực trạng đã điều tra, cả những nguyên nhân dẫn đến
thực trạng ấy. Tôi nhận thấy rằng, bởi lẽ các em trở thành học sinh cá biệt về
đạo đức như vậy là do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến những nguyên
chính là do: hoàn cảnh gia đình, sự thờ ơ của xã hội và gia đình trong việc giáo
dục và dạy dỗ các em. Từ đó tôi có cơ sở để đề xuất các giải pháp như sau:
a) Về phía giáo viên chủ nhiệm:
+ Trước hết phải có cái “Tâm”. Xuất phát từ chữ tâm ấy sẽ dễ dàng tiếp
cận được các em học sinh, sự bao dung và sự chịu khó sẽ giúp cho giáo viên dễ
dàng thuyết phục giáo dục được các học sinh cá biệt. Cũng từ chữ tâm ấy, sẽ đẩy
trách nhiệm, nghĩa vụ của giáo viên chủ nhiệm lên tầm cao hơn, từ đó trăn trở, suy
nghĩ đưa ra biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng.
+ Giáo viên phải tôn trọng học sinh dạng cá biệt này, dù các hành vi của các
em có thể gây xúc phạm đến danh dự của mình. Đồng thời phải có lòng tin với các
em, tin tưởng các em để giao một số công việc phù hợp của lớp cho các em phụ
trách.
+ Tuyệt đối, giáo viên không được xúc phạm danh dự đến các em học sinh
trước tập thể lớp.
+ Giáo viên phải chịu khó lắng nghe tâm sự của các em, thường xuyên quan
tâm và hỏi thăm, chăm sóc các em trong các điều kiện có thể. Từ đó mới tìm hiểu
được nguyên nhân chính dẫn đến sự cá biệt của các em mà tìm giải pháp cho phù
hợp, an ủi và động viên kịp thời các em khi phát hiện những bi kịch, chuyện buồn
mà gia đình cũng như xã hội mang lại.
+ Giáo viên phải biết khơi gợi lòng tin cậy và tìm cách giao việc của lớp
phù hợp với khả năng của học sinh (cá biệt về đạo đứ) và tìm cách khen ngợi các
em trước tập thể lớp khi các em hoàn thành công việc mà giáo viên chủ nhiệm
giao.
Với những vấn đề trên, nếu giáo viên áp dụng được sẽ rất dễ dàng tiếp cận
và tìm hiểu mọi vấn đề phát sinh khi cần thiết. Thực tế trong những năm qua, với
những vấn đề ấy, bản thân tôi đã được các em học sinh cá biệt phải tôn trọng. Ban
đầu các học sinh cá biệt sống rất tách rời tập thể, thấy cô giáo thì ghét, chửi thề...,
xong dần dần, tôi đã giúp cho các em hiểu được vấn đề và hiện nay đa số các em
sống rất gần gũi với lớp. Đặc biệt bất kỳ chuyện gì xảy ra, dù lớn hay nhỏ các em
này cũng đều tâm sự và chia sẻ với tôi từ niềm vui đến nỗi buồn. Chính đều đó dần
dần, tôi đã giúp các em tránh được tự ti và mặc cảm ban đầu.
b) Về phía học sinh:
+ Giáo viên chủ nhiệm phải nắm được đặc điểm, hoàn cảnh cụ thể của từng
gia đình học sinh cá biệt. Để từ đó cảm thông, tránh sự xúc phạm vô tình đến các
em và đồng thời tạo nhiều điều kiện hơn để các em phát huy học tập và rèn luyện
+ Giáo viên phải tìm hiểu, khai thác những điểm tốt và điểm yếu cơ bản
nhất của học sinh để tác động làm thay đổi tính cách của học sinh cá biệt
+ Giáo viên phải hiểu những suy nghĩ và những điều học sinh muốn. Có
như vậy mới giúp các em tháo gỡ được những điểm yếu của mình để đạt được điều
mình mong muốn chính đáng.
c) Về phía gia đình:
+ Giữa nhà trường và gia đình phải có sự kết hợp chặc chẽ, sự kết hợp giáo
dục này phải diễn ra thật tế nhị và thường xuyên. Tránh những hành động nóng
nảy của gia đình đối với học sinh như: đánh con khi nghe cô giáo đến thưa chuyện
….
+ Phải thuyết phục được gia đình tạo mọi điều kiện tốt nhất để con, em
mình học tập, đồng thời nhắc nhở phụ huynh phải thường xuyên quan tâm đến việc
học của con em mình. Gia đình phải xem việc giáo dục con em không phải là chỉ
riêng nhà trường mà cần phải có một phần trách nhiệm rất lớn từ gia đình.
3.5. Các giải pháp chủ yếu:
Năm học 2023 - 2024 với vai trò là Phó hiệu trưởng phụ trác chuyên môn,
đảm bảo về mặt chất lượng đại trà của nhà trường. Ngoài ra tôi được nhà trường
phân công phối hợp cùng giáo viên Tổng phụ trách đội và giáo chủ nhiệm các lớp
cùng uốn nắn và giáo dục một số học sinh cá biệt về đạo đức và gặp khó khăn trong
học tập ở một số lớp nới riêng và toàn trường Tiểu học Nguyễn Tất Thành nói
chung. Từ những nghiên cứu và việc làm cụ thể bản thân tôi đã đưa ra những giải
pháp chủ yếu như sau :
a) Tìm hiểu được căn nguyên của từng học sinh cá biệt:
Sau khi đã xác định được các đối tượng học sinh thuộc diện gặp khó khăn
trong học tập và cá biệt về đạo đức trong lớp cần tổ chức theo dõi và đánh giá một
cách khách quan, trung thực, đúng bản chất của vấn đề. Liệt kê ra các nguyên
nhân, các lý do mà các em thường vi phạm và mắc phải; liệt kê số lần các em vi
phạm, sau mỗi lần đó đã có ai nhắc nhở, giáo dục chưa? Đã cho các em suy ngẫm
về lỗi của mình và đã hứa khắc phục hay chưa ?.... cần phải ghi chép rõ ràng để
làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp giáo dục.
Trở lại với tình hình học sinh thuộc diện gặp khó khăn trong học tập và cá
biệt về đạo đức của 3 lớp tôi đã cùng với giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên Tổng
phụ trách đội theo dỗi và thấy nổi lên có 07 học sinh rất cần có sự giúp đỡ đặc
biệt. Những em này vi phạm nhiều lần, nhắc nhở nhiều lần mà các em vẫn cứ tái
phạm. Qua tìm hiểu từ bạn bè và đặc biệt tôi đến từng nhà của từng học sinh tìm
hiểu và trao đổi trực tiếp với phụ huynh của các em học sinh này, tôi có nhận xét :
Em: Lê Công Hoàng - Đầu năm, em học rất yếu, lại hay thích đánh nhau, nói
tục, chửi thề. Gia đình em về kinh tế tương đối ổn định, em lại ở với ông bà nội (dó
bố ,mẹ đi làm ăn xa) nên em thường trốn học chơi game, bị các anh lớn tuổi hơn rủ
rê hút thuốc lá điện tử...... Nên tạo cho em tính cách rất giang hung hăng, bất cần.
Sau khi trực tiếp trao đổi với gia đình và đưa ra các biện pháp áp dụng, kiên quyết.
Đến nay em Hòang không những đã trở thành học sinh tích cực trong học tập mà
các tính xấu đã thay đổi, luôn giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn, biết vâng lời, phát
biểu bài sôi nổi.
Em: Hồ Xuân Hưng (lớp 3A) là thuộc dạng rất cá biệt về đạo đức như hay
chửi thề, thường xuyên bỏ học đi chơi, tính cách rất nóng nảy, nói không biết vâng
lời, học rất yếu. Gia đình em bố mẹ bỏ nhau và đi làm công nhân ở Bình Dương
em ở nhà với bà ngoại. Do em ở lại 2 năm ở lớp 1 nên tuổi của em hơn so với các
bạn trong lớp 2 tuổi nên em tỏ ra mình là “đại ca” của lớp. Thường tụ tập đám bạn
bè khối lớp 5 và một số các bạn học (THCS) lớp 6,7 chơi game…. Bỏ bê việc học,
thích đánh nhau. Qua quá trình giáo dục, nay em đã thay đổi cơ bản những tính xấu
này, biết vâng lời, đi học đều, biết cố gắng học tập và đã vươn lên mức học trung
bình.
b) Xây dựng biện pháp giáo dục cho từng đối tượng:
Sau khi tìm hiểu nguyên nhân của từng đối tượng học sinh thuộc diện gặp khó
khăn trong học tập và cá biệt về đạo đức tôi đã đưa ra các phương án cụ thể cho
từng em.
* Nhóm học yếu nhưng biết vâng lời, ham học hỏi: (các em: Nam, Khoa,
Minh, Thuật).
Với nhóm những học sinh thuộc diện gặp khó khăn trong học tập và những
em này xét về gia cảnh thì khó khăn, các em không có thời gian học tập nên có kết
quả học tập yếu kém. Thực hiện các biện pháp như :
+ Phân công các bạn học khá hơn kèm cặp, cùng làm các bài tập ở nhà hoặc
tập viết chính tả, tranh luận các từ sai.
+ Hàng ngày giáo viên chủ nhiệm cần giúp đỡ các em trong học tập, giảng lại
những bài mà các em chưa hiểu, giúp các em hoàn thành các bài tập bằng tự lực
bản thân.
+ Nhắc nhở tất cả các giáo viên bộ môm, giáo viên chủ nhiệm khi giảng bài
thường chú ý và hỏi bài đến các đối tượng này, để theo dõi việc hiểu bài của các
em mà giảng chậm hoặc giảng lại.
+ Trao đổi với phụ huynh, nên giành thời gian cho các em học tập. Bố trí cho
các em tổ chức đến nhà cùng nhau ôn tập và rèn luyện bài vở.
* Nhóm các học sinh cá biệt về đạo đức: (các em: Hưng, Hoàng, Long).
Đây là các em thường có học lực yếu, đi đôi với hành vi đạo đức không tốt,
thường ảnh hưởng đến sự học tập của lớp. Biện pháp đưa ra:
+ Gặp riêng từng em, hỏi thăm việc học tập và gia đình của các em. Sau đó
phân tích những hành vi mà các em đã gây ra đúng sai như thế nào? Tìm hiểu lý do
vì sao các em đó lại có hành vi ấy?
+ Gặp gia đình, trao đổi và thống nhất các biện pháp giáo dục như:
* Hạn chế cho các em tham gia vào các nhóm thanh niên hư hỏng ở địa
phương cũng như không cho tham gia vào các tệ nạn như: chơi game, hút thốc lá
điện tử...
* Thiết lập sổ theo dõi giữa gia đình và lớp. Tuần nào giáo viên chủ nhiệm
cũng đánh giá nhận xét việc học tập cũng như hành động của các em vào sổ gửi về
cho bố mẹ. Và đồng thời cũng lấy ý kiến từ gia đình để giáo viên có biện pháp giáo
dục khác. Từ đó gia đình luôn nắm bắt được tình hình học tập của con em mình,
cùng với nhà trường kèm cặp học sinh tốt hơn. Hạn chế đánh giá xấu, tiêu cực về
các em trước bạn bè. Giáo viên chủ nhiệm tìm điểm tốt để khen và khích lệ học
sinh một cách thường xuyên.
* Giao cho các em một số nhiệm vụ ở lớp.
Thí dụ: Đối với em Lê Công Hoàng (5A) giao cho nhiệm vụ đôn đốc các
bạn làm vệ sinh lớp, vệ sinh khu vực; bê bình nước uống cho các em khối lớp
1,2,3... Đối với em Hồ Xuân Hưng (3A), em Nguyễn Phan Bỏ Long (5B) giao cho
nhiệm vụ theo dõi các bạn xếp hàng ra vào lớp, ghi tên những bạn nói bậy, đánh
nhau.
* Trong các giờ sinh hoạt lớp giao các em nhận xét tình hình lớp trong tuần,
có bạn nào vi phạm khuyết điểm hay không. Giáo viên chủ nhiệm nhận xét lại và
tìm hiểu thêm các chi tiết để nhận định, biểu dương.
* Từ những nhiệm vụ được giao đó, tạo cho các em có ý thức hơn trong học
tập, tư cách đạo đức của mình với tập thể, dần dần các em sẽ nhận ra những sai
phạm của mình với bàn bè xung quanh để mà sửa đổi thành những người tốt với
bản thân và với tập thể lớp.
* Từ những nhiệm vụ được giao, giáo viên phải biết tán dương, khen
thưởng, động viên các em khi thực hiện tốt nhiệm vụ. Từ đó giúp cho các em hiểu
được mình vẫn còn có giá trị trong lớp, có khả năng thực hiện tốt các việc khác.
* Bên cạnh đó cũng nghiêm khắc kiểm điểm, thẳng thắng phê bình các em
học sinh vẫn còn vi phạm các hành vi đạo đức. Buộc các em phải ghi ra những lời
hứa khắc phục và thời gian khắc phục
* Một số em có tính nóng nảy, hay gây sự, nếu giáo dục nhiều lần không
thay đổi, gia đình buông xuôi, thì nên liên hệ với Đoàn thanh niên thôn (buôn), các
đoàn thể của đại phương, công an xã…. Để kết hợp giáo dục.
3.6. Tổ chức, triển khai thực hiện:
Thông qua các cuộc sinh hoạt lớp, các hoạt động giảng dạy… giáo viên chủ
nhiệm biểu dương, khen ngợi các em đã có nhiều tiến bộ trong học tập cũng như
trong việc rèn luyện đạo đức. Đặc biệt là các học sinh cá biệt phải quan tâm vấn đề
này lên hàng đầu. Tổ chức cho các em giao lưu văn hóa, văn nghệ để hiểu nhau
hơn. Bên cạnh đó, giáo viên cũng phải nghiêm khắc phê bình những em học sinh
không chịu rèn luyện tu dưỡng đạo đức và học tập. Giao cho lớp trưởng, tổ trưởng
theo dõi và báo cáo tình hình hoạt động của các học sinh thuộc diện gặp khó khăn
trong học tập và cá biệt về đạo đức thường xuyên để giáo viên kịp thời xử lý không
để quá muộn.
4. Kết quả ứng dụng
Tính từ đầu năm học áp dụng các biện pháp giáo dục nêu trên cho đến cuối
học kỳ I năm học 2023 – 2024, kết quả đạt được tại đơn vị trường Tiểu học
Nguyễn Tất Thành huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk như sau:
4.1. Nhóm học sinh gặp khó khăn về học tập:
Đầu năm có 07 thuộc diện gặp khó khăn trong học tập và cá biệt về đạo đức đến
hết học kỳ I chỉ còn 01 em chiếm tỉ lệ 0,34%, giảm 1,96 % so với đầu năm. Đa số
các em đã biết thực hiện những phép tính toán cơ bản, đọc thông, viết đúng chính
tả. Tuy nhiên vẫn còn em Hồ Văn Khoa (3A) học yếu do hoàn cảnh của em quá
đặc biệt về chậm phát triển trí tuệ, gia đình chưa thực sự quan tâm đưa em đi khám
và làm chứng nhận học sinh khuyết tật về trí tuệ.
4. 2 Nhóm học sinh cá biệt về đạo đức:
Đầu năm có 03 em, đến nay không còn em nào thuộc dạng cá biệt về đạo đức.
Các em đã biết vâng lời thầy cô giáo và người lớn, không còn nói tục, chửi thề tại
trường học, không còn tình trạng đánh nhau trong và ngoài nhà trường. Một số em
từ là học sinh có đạo đức kém bây giờ trở thành lớp phó phụ trách trật tự của lớp
và có đạo đức tốt, được các em học sinh khác yêu mến. Trong đó có em Lê Công
Hoàng và em Nguyễn Ngọc Bảo Minh, đã tiến bộ rất nhiều, các em tham gia phát
biểu bài sôi nổi, biết giúp đỡ bạn trong lớp, và tham gia đầy đủ các hoạt động của
lớp và của trường tổ chức.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trong suốt gần một năm học thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy hài lòng vì đa
số các học sinh thuộc diện gặp khó khăn trong học tập và cá biệt về đạo đức đã
nhận thức đúng đắn về hành vi học tập và rèn luyện đạo đức của mình. Các em có
hành vi đạo đức chưa tốt đã ngoan lên rất nhiều, các em có học lực yếu kém giờ
cũng đã cải thiện, từ viết sai chính tả, đọc không thông, làm toán không được, bây
giờ các em đã tự thực hiện được các vấn đề cơ bản của bộ môn Tiếng việt và môn
Toán. Tất cả các nội dung cần điều tra hầu như đều tăng tuy chưa đạt 100% nhưng
bước đầu các em đã biết hòa đồng cùng bạn bè, biết đoàn kết và biết bảo vệ của
chung. Tôi thiết nghĩ rằng, việc giáo dục cho học sinh gặp khó khăn trong học tập
và cá biệt về đạo đức là một việc làm rất khó khăn và mất thời gian. Tuy nhiên với
những kinh nghiệm của bản thân cũng như trách nhiệm của người quản lý tôi đã cố
gắng từng bước khắc phục những khó khăn trước mắt để tạo điều kiện và giúp đỡ
các học sinh gặp khó khăn trong học tập và cá biệt về đạo đức vươn lên, tiến bộ
hơn trong thời gian tới. Nếu chúng ta hiểu được tâm sinh lí của từng đối tượng học
sinh, thật sự quan tâm đến các em, nắm được tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh gia
đình các em thì chúng ta sẽ đưa ra được các biện pháp giáo dục chính xác và phù
hợp nhất. Chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao, các em sẽ nhanh chóng trở thành
đội viên tốt, xứng đáng cháu ngoan Bác Hồ.
2. Kiến nghị
- Ban giám hiệu nhà trường cần có những hỗ trợ cần thiết khi giáo viên
chủ nhiệm gặp khó khăn trong việc tiếp cận với gia đình học sinh gặp khó khăn
trong học tập và cá biệt về đạo đức hoặc tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên
liên hệ làm việc với các ban ngành (Đoàn, Hội, Đội, các tổ chức xã hội khác...)
khi cần thiết để giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong học tập và cá
biệt về đạo đức .
- Nhà trường phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, gióa viên Tổng phụ trách
Đội, anh chị phụ trách các chi đội, các lớp sao nhi để tổ chức các hoạt động sinh
hoạt chủ điểm, các tròi chơi dân gian.... Thi đua học tập, tuyên truyền dương
người tốt, việc tốt tại trường và ở địa phương để giáo dục học sinh một các gần
gủi và thiết thực nhất.
Ea hu, ngày 10 tháng 04 năm 2024
Người thực hiện
Lê Đình Tuấn
Ý kiến nhận xét, đánh giá và xếp loại của nhà trường
..........................................................................................
..........................................................................................
.........................................................................................
...........................................................................................
..........................................................................................
..........................................................................................
..........................................................................................
..........................................................................................
..........................................................................................
HIỆU TRƯỞNG
 






Các ý kiến mới nhất